1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, hội nhập quốc tế đã và đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với mọi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Hội nhập thành công sẽ mở ra cơ hội phát triển cất cánh trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng. Nghị quyết 68 ra đời, mở đường cho một giai đoạn phát triển bứt phá mới của kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Với nhận thức có tính đột phá này của Đảng ta, kinh tế tư nhân được xem là một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, lợi dụng việc này, các thế lực thù địch và phản động đã tung ra những luận điệu bóp méo, chống phá, xuyên tạc với mục đích gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội về đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta. Chính vì thế, nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc về vấn đề này là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân vào đường lối phát triển kinh tế của Đảng, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Nội dung
2.1. Nhận diện các luận điệu xuyên tạc quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là văn bản quan trọng của Đảng ta, đánh dấu bước chuyển biến trong nhận thức về kinh tế tư nhân trong sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, các phần tử chống phá cách mạng đã lợi dụng việc Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) để phát tán những luận điệu xuyên tạc, sai trái.
Cụ thể, những đối tượng này cho rằng việc nâng cao vai trò của kinh tế tư nhân đồng nghĩa với việc từ bỏ Chủ nghĩa Mác – Lênin, là sự thất bại của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời là hành động mở đường cho việc từ bỏ CNXH để đi theo con đường chủ nghĩa tư bản (CNTB) tại Việt Nam. Họ cố tình bóp méo rằng việc phát triển kinh tế tư nhân là mâu thuẫn hoặc bất nhất với quan điểm truyền thống của Đảng về đặc trưng cơ bản của CNXH là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Mục đích chính của các luận điệu xuyên tạc trên là gây tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng và vào con đường đi lên CNXH mà Việt Nam đã kiên định lựa chọn. Từ đó, làm ảnh hưởng xấu đến sự thống nhất nhận thức, tư tưởng và tình hình đầu tư, phát triển kinh tế đất nước. Do đó, cần phải kiên quyết bác bỏ những luận điệu này bằng các lập luận khoa học và chứng cứ thực tiễn.
Các luận điệu xuyên tạc còn cho rằng việc Đảng khẳng định “kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế” là bất nhất với quan điểm trước đây, đó là sự chệch hướng XHCN, thừa nhận sự thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, hay thậm chí là chuẩn bị đổi màu chính sách phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, sắp tư nhân hóa nền kinh tế quốc dân. Thực chất, việc phát triển mạnh mẽ và lành mạnh kinh tế tư nhân là hoàn toàn phù hợp với bản chất của nền kinh tế thị trường đa thành phần. Nó nhằm khai thác tối đa nguồn lực trong xã hội, tăng cường sức sản xuất, tạo ra của cải vật chất, và quan trọng nhất là phục vụ mục tiêu chung của CNXH là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là sự hoàn thiện thể chế, chứ không phải là sự thay đổi về định hướng chính trị, kinh tế xã hội của đất nước. Việc khẳng định vai trò động lực quan trọng của kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay hoàn toàn không phải là sự chệch hướng XHCN. Ngược lại, việc phát triển kinh tế tư nhân mạnh mẽ, lành mạnh chính là nhân tố góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp kinh tế, tạo ra nguồn lực vật chất dồi dào để đất nước vững bước đi lên CNXH theo đúng mục tiêu đã đề ra. Bên cạnh đó, việc xây dựng kinh tế nội lực đủ mạnh, vững chắc dựa trên “kiềng ba chân” – kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân – có ý nghĩa chiến lược trong đảm bảo tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập thành công trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhận thức mới của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong Nghị quyết 68 gắn với mô hình “kiềng ba chân” kinh tế ở Việt Nam
Là một trong bộ tứ nghị quyết chiến lược, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới đã thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược, sự đổi mới tư duy mạnh mẽ và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết xác định “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025); và rằng “cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Nghị quyết 68 vừa thể hiện tinh thần nhất quán của Đảng về phát triển các thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế quốc dân vừa thể hiện phát triển đột phá tư duy lý luận về vai trò, vị thế của kinh tế tư nhân và mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể.
Đối với kinh tế nhà nước, Đảng ta luôn nhất quán: “Kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.137). Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, được thể hiện rõ nét trên ba phương diện quan trọng sau: Một là, chủ đạo về chiến lược an ninh quốc phòng và an ninh kinh tế. Đây là phương diện có ý nghĩa sống còn, bảo đảm cho nền kinh tế giữ được sự ổn định, bền vững, độc lập, tự chủ trong mọi tình huống. Kinh tế nhà nước mà trong trong tâm là các doanh nghiệp nhà nước hiện diện ở những lĩnh vực then chốt như năng lượng, dầu khí, điện lực, viễn thông, tài chính – ngân hàng, hàng không, hạ tầng giao thông… vốn không chỉ mang ý nghĩa kinh tế thuần túy mà còn liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia và lợi ích chiến lược lâu dài của đất nước. Điển hình, các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước như: Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội (Viettel) vừa đảm bảo cung ứng các dịch vụ công thiết yếu, vừa giữ vai trò “lá chắn” đảm bao an ninh quốc gia trước những tác động từ bên ngoài.Thực tiễn cho thấy, nếu không giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở các ngành chiến lược, nền kinh tế rất dễ rơi vào tình trạng bị động, lệ thuộc, đặc biệt trong bối cảnh thế giới biến động, cạnh tranh chiến lược gay gắt, an ninh năng lượng và an ninh lương thực trở thành vấn đề toàn cầu. Hai là, vai trò chủ đạo thể hiện ở việc dẫn dắt thị trường, kiến tạo động lực tăng trưởng và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển. Các doanh nghiệp nhà nước thường giữ vai trò tiên phong trong đầu tư vào những lĩnh vực nhiều rủi ro, đòi hỏi nguồn vốn lớn, nguồn lực khoa học công nghệ mạnh, thời gian thu hồi chậm và lâu dài nhưng lại có ý nghĩa mở đường, tạo không gian cho khu vực tư nhân phát triển. Không chỉ vậy, kinh tế nhà nước còn giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn, bảo đảm công bằng xã hội. Khi khu vực tư nhân còn hạn chế về vốn và nguồn lực, thì sự chủ động đầu tư của nhà nước chính là bước đi kiến tạo để mở đường cho phát triển lâu dài. Ba là, chủ đạo trong xây dựng môi trường thị trường lành mạnh và cạnh tranh công bằng. Sự tồn tại và hoạt động của kinh tế nhà nước có vai trò thiết yếu trong việc điều tiết, định hướng và bảo đảm kỷ cương của thị trường. Khi doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả, công khai, minh bạch và tuân thủ nguyên tắc thị trường, họ trở thành hình mẫu, là “người chơi chuẩn mực” góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, chống lại các hiện tượng tiêu cực như độc quyền tư nhân, thao túng thị trường, cạnh tranh không lành mạnh. Bên cạnh đó, khu vực nhà nước còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết giá cả những mặt hàng chiến lược như điện, xăng dầu, dịch vụ hạ tầng thiết yếu…, tránh để thị trường rơi vào tình trạng biến động cực đoan gây bất ổn cho đời sống xã hội. Đặc biệt, sự hiện diện của doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực giúp Nhà nước có công cụ trực tiếp can thiệp khi thị trường biến động mạnh, qua đó giữ ổn định vĩ mô, củng cố niềm tin của nhà đầu tư và người dân. Nguyên tắc của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nghị quyết 68 nhấn mạnh kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc hạ thấp vai trò của kinh tế nhà nước mà phải hiểu rằng vấn đề mang nguyên tắc trong mô hình kinh tế Việt Nam là phải đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Kinh tế tập thể, mà nòng cốt là các hợp tác xã, giữ vai trò nền tảng vững chắc, đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và là một bộ phận không thể thiếu để duy trì sự công bằng, hài hòa xã hội. Vai trò nền tảng của kinh tế tập thể xuất phát từ vai trò cầu nối hiệu quả, giúp hàng triệu hộ sản xuất cá thể, quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế, công nghệ lạc hậu, hạn chế trong khả năng tiếp cận thị trường có cơ hội được tổ chức lại theo mô hình hợp tác, liên kết chặt chẽ hơn. Thông qua nhiều hình thức hợp tác đa dạng, các hộ sản xuất này không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, giải quyết các vấn đề về môi trường và văn hóa ở nông thôn. Sự phát triển của kinh tế tập thể là bằng chứng cho thấy sự cân bằng giữa hiệu quả kinh tế (thông qua liên kết sản xuất) và mục tiêu xã hội (thông qua tương trợ và phân phối), giúp nền kinh tế Việt Nam có khả năng tự chủ cao hơn trong sản xuất lương thực, thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu, phát huy lợi thế so sánh, phát triển các sản phẩm đặc sản địa phương, sản phẩm OCOP có tiềm năng xuất khẩu tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu một cách bài bản hơn; tạo nên sự phong phú và bản sắc cho hàng hóa “made in Vietnam”, đồng thời giảm thiểu sự phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng nước ngoài, ổn định nguồn lực xã hội trong quá trình hội nhập.
Kinh tế tư nhân với ưu thế vượt trội về tính năng động, linh hoạt, thích ứng cao với sự biến động của thị trường, có tính nhanh nhạy trong đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, tăng cường huy động nhanh các nguồn lực xã hội vào sản xuất – kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia sâu vào các mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững. Khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta sau gần 40 năm đổi mới đã “đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động, kinh tế tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của cả nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã vươn ra thế giới, thiết lập mạng lưới hợp tác quốc tế và nâng tầm thương hiệu quốc gia, điển hình như FPT, Viettel, VinFast, Vinamilk, TH True Milk, VietJet Air,... đã và đang tạo thế và lực mới cho Việt Nam trong quan hệ đối ngoại kinh tế, giúp đất nước mở rộng ảnh hưởng mà vẫn chủ động kiểm soát định hướng phát triển. Không những vậy, khi cộng đồng doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh, Việt Nam sẽ giảm được sự lệ thuộc vào vốn ODA, FDI hoặc chuỗi sản xuất của nước ngoài, từ đó tăng khả năng tự chủ trong chiến lược phát triển quốc gia.
Mỗi thành phần kinh tế đều có vai trò, vị thế riêng song không hoạt động độc lập mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ, hài hòa, bổ sung và liên kết chặt chẽ cùng phát triển, tạo thành thế “kiềng ba chân” vững chắc cho nền kinh tế đất nước phát triển nhanh và bền vững.
2.3. Định hướng phát triển vững chắc “kiềng ba chân” kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập thành công
“Kiềng ba chân” là hình ảnh khái quát cô đọng nhưng giàu ý nghĩa, phản ánh một cấu trúc đa trụ, đa động lực với ba cột trụ của nền kinh tế gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân. Phát triển vững chắc “Kiềng ba chân” không chỉ là mục tiêu nội tại mà còn là chiến lược phòng vệ tối ưu trước bối cảnh kinh tế thế giới đang trải qua giai đoạn phức tạp chưa từng có. Đại dịch COVID-19 khiến chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy; giá năng lượng tăng cao do xung đột Nga – Ukraine; chính sách tiền tệ thắt chặt từ các nước lớn khiến dòng vốn quốc tế đảo chiều, gây áp lực lớn lên tỷ giá và lạm phát nội địa; chiến tranh thương mại giữa các cường quốc, những khủng hoảng xung đột về dân tộc, tôn giáo diễn biến phức tạp, … đã tạo nên diện mạo của thế giới hiện nay với nhiều biến động, bất định, phức tạp và mơ hồ. Theo đó, sức mạnh tổng hợp của mô hình kiềng ba chân này chính là chìa khóa để kiến tạo nên sức mạnh nội sinh, củng cố năng lực nội tại, đảm bảo tính độc lập, tự chủ thực sự của nền kinh tế Việt Nam, một sự tự chủ được định nghĩa bằng khả năng tự lực về sản xuất, công nghệ, tài chính; có khả năng thích ứng linh hoạt, chủ động ứng phó với mọi cú sốc bên ngoài, "chống sốc" tốt, phục hồi nhanh, giảm thiểu rủi ro lan truyền và giảm lệ thuộc vào bên ngoài.
Phát triển vững chắc “kiềng ba chân” đòi hỏi sự phát triển hài hòa, cân đối và gắn kết chặt chẽ giữa ba thành phần kinh tế cốt lõi: kinh tế nhà nước (giữ vai trò chủ đạo), kinh tế tập thể (không ngừng được củng cố và phát triển) và kinh tế tư nhân (là một động lực quan trọng nhất). Việc xây dựng các giải pháp đồng bộ không chỉ nhằm phát huy tối đa sức mạnh nội tại của mỗi thành phần kinh tế mà còn thúc đẩy sự tương hỗ, liên kết để tạo nên một nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập hiệu quả.
Trước hết, hoàn thiện thể chế và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng được xem là giải pháp nền tảng, là tháo gở điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển kinh tế hiện nay. Một hệ thống thể chế minh bạch, đồng bộ và ổn định sẽ là nền tảng để các thành phần kinh tế phát huy hết tiềm năng, đồng thời bảo đảm sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh. Trong thực tế, mặc dù Việt Nam đã có nhiều nỗ lực cải cách thể chế nhưng vẫn tồn tại không ít hạn chế như thủ tục hành chính còn phức tạp, một số lĩnh vực còn tình trạng xin – cho, cơ chế đặc quyền đặc lợi,... Do đó, cần đổi mới tư duy xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật theo tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới nhằm bảo đảm nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sử dụng các công cụ thị trường để điều tiết nền kinh tế; giảm thiểu sự can thiệp và xoá bỏ các rào cản hành chính, cơ chế "xin - cho", tư duy "không quản được thì cấm". Hoàn thiện hệ thống pháp luật, xoá bỏ các rào cản tiếp cận thị trường đảm bảo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, rõ ràng, nhất quán, ổn định lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp. Trong thực hiện các quy trình, thủ tục hành chính cần đảm bảo minh bạch hoá, số hoá, thông minh hoá, tự động hoá, áp dụng triệt để trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn. Cải cách mạnh mẽ từ nền hành chính công vụ, quản lý là chủ yếu sang phục vụ và kiến tạo phát triển, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; hiện đại hoá quản trị công, quản trị dựa trên dữ liệu. Thiết lập cơ chế đánh giá, phản hồi về các rào cản, vướng mắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tình trạng thiếu nhất quán trong thực thi chính sách giữa trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành và giữa các địa phương với nhau cần phải được khắc phục triệt để. Thực hiện cơ chế thị trường, không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản, công nghệ, nhân lực, dữ liệu và các nguồn lực tài nguyên khác. Rà soát, hoàn thiện các chính sách thuế, phí, lệ phí theo hướng bảo đảm đối xử công bằng giữa các thành phần kinh tế, giảm thuế suất, mở rộng cơ sở tính thuế, nhất là thu thuế điện tử khởi tạo từ máy tính tiền; nghiêm cấm lạm dụng quyết định hành chính, hành vi bảo hộ cục bộ của ngành, địa phương. Xử lý nghiêm các hành vi làm hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh. Xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi cá nhân, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức; đồng thời, có cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với trường hợp đã thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định liên quan, không tư lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhưng có thiệt hại do rủi ro khách quan.
Hai là, phát huy sức mạnh nội lực của mỗi thành phần kinh tế là giải pháp mang tính quyết định để bảo đảm sự cân đối, bền vững và tránh tình trạng phụ thuộc quá mức vào một khu vực. Với kinh tế nhà nước, cần tập trung tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, đồng thời giữ vững vai trò nòng cốt trong các lĩnh vực then chốt như năng lượng, viễn thông, tài chính – ngân hàng, hạ tầng chiến lược. Nhà nước không đầu tư vào những lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể đảm nhận tốt hơn, thay vào đó tập trung vào vai trò dẫn dắt, định hướng và bảo đảm an ninh kinh tế. Đối với kinh tế tập thể, cần đổi mới mô hình tổ chức, quản trị hợp tác xã theo hướng hiện đại, hiệu quả, lấy lợi ích kinh tế của thành viên làm trung tâm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số vào hoạt động từ khâu sản xuất, chế biến đến phân phối, tiêu thụ. Việc áp dụng công nghệ mới không chỉ giúp tiết giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận các kênh phân phối hiện đại và thương mại điện tử, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Kinh tế tập thể phải thực sự là điểm tựa cho các hộ nông dân, tiểu thương, người lao động yếu thế, qua đó góp phần thực hiện công bằng xã hội và giảm thiểu phân hóa giàu nghèo. Đối với kinh tế tư nhân, cần khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát huy tinh thần tiên phong của xây dựng đội ngũ doanh nhân có bản lĩnh chính trị, văn hóa và đạo đức kinh doanh. Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chuyển đổi xanh, kinh doanh hiệu quả, bền vững trong kinh tế tư nhân. Hình thành và phát triển nhanh các doanh nghiệp lớn và vừa, các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm cỡ khu vực và toàn cầu, đặc biệt mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp vào các dự án trọng điểm có ý nghĩa lớn với phát triển kinh tế - xã hội, dự án quan trọng quốc gia. Đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt từ giảm thuế, ưu đãi vốn, khoa học công nghệ, thị trường… để khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.
Ba là, đẩy mạnh liên kết và hợp tác trong sản xuất và mở rộng thị trường là giải pháp vừa tạo sự tương hỗ trực tiếp vừa phát huy sức mạnh tổng thể của ba thành phần kinh tế. Thực tế cho thấy, sự thiếu liên kết đang là điểm yếu lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam. Do đó, cần tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp theo cụm ngành, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng. Trước hết, tăng cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước theo chuỗi giá trị, trong đó mỗi chủ thể phát huy thế mạnh riêng: hợp tác xã tập hợp hộ sản xuất, doanh nghiệp tư nhân linh hoạt về thị trường, còn doanh nghiệp nhà nước có tiềm lực về vốn và hạ tầng. Mối liên kết này sẽ tạo nên hệ sinh thái hợp tác cùng phát triển, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động. Bên cạnh đó, Nhà nước cần khuyến khích mô hình hợp tác công – tư (PPP) trong đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ, qua đó tạo điều kiện để các khu vực tham gia vào những dự án lớn, cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro. Liên kết cũng cần mở rộng theo chiều ngang (giữa các doanh nghiệp cùng ngành) và chiều dọc (giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị), giữa trong nước với