Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã hình thành và phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển lâu dài. Trong mô hình đó, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định kinh tế nhà nước (KTNN) giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân (KTTN) là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phát triển tư duy lý luận, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Hai nghị quyết này không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn, mà còn góp phần hoàn thiện lý luận về kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Từ khóa: kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, nghị quyết của Đảng, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam.
1. Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân: khẳng định KTTN là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia
Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; xác định doanh nhân là người chiến sĩ trên mặt trận kinh tế; bảo đảm đầy đủ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền cạnh tranh bình đẳng, được tự do kinh doanh các ngành nghề pháp luật không cấm; tạo dựng, củng cố niềm tin giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và doanh nhân; bảo đảm kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong tiếp cận cơ hội kinh doanh và các nguồn lực của nền kinh tế, nhất là vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực, dữ liệu và các nguồn lực hợp pháp khác của đất nước theo quy định của pháp luật. Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài; cần được cụ thể hoá trong các chiến lược, chính sách phát triển của đất nước với các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:(i) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; (ii) Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam có năng lực, đạo đức và khát vọng cống hiến; (iii) Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia vào các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế xanh; (iv) Tăng cường liên kết giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trong chuỗi giá trị.
Về lý luận, Nghị quyết 68-NQ/TW thể hiện sự đột phá, cách mạng trong tư duy lý luận về thànVh phần kinh tế, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế tư nhân, từ chưa được thừa nhận đầy đủ đến khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển khu vực này trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều này thể hiện sự chuyển biến từ tư duy thừa nhận sang tư duy phát triển chủ động và chiến lược, thể hiện sự nhận thức ngày càng sâu sắc về quy luật phát triển lực lượng sản xuất trong kinh tế thị trường. Đồng thời, Nghị quyết 68-NQ/TW lần đầu tiên nhận thức đầy đủ vai trò của doanh nhân trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; từ đó xây dựng hành lang thể chế kinh tế và môi trường kinh doanh đảm bảo tự do, bình đẳng và cùng phát triển. Về thực tiễn, kinh tế tư nhân có vai trò to lớn trong huy động nguồn vốn xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia, đóng góp tỷ trọng lớn trong GDP, tạo phần lớn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
2. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước: khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Nghị quyết 79-NQ/TW khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh; xác định kinh tế nhà nước không còn nhấn mạnh sự can thiệp hành chính, mà chuyển sang vai trò dẫn dắt và kiến tạo thông qua hiệu quả hoạt động, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ, mở đường cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Trong đó, mở rộng khái niệm nguồn lực kinh tế nhà nước bao gồm cả không gian ngầm, vùng trời, tài nguyên số và dữ liệu quốc gia.
Nghị quyết 79-NQ/TW tập trung vào các nhiệm vụ: (i)Nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quản trị hiện đại; (ii) Tập trung kinh tế nhà nước vào các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, quốc phòng, an ninh và hạ tầng chiến lược; (iii) Đổi mới cơ chế quản lý vốn nhà nước, tăng cường minh bạch và phòng chống tham nhũng, lãng phí; (iv) Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong điều tiết thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện mục tiêu xã hội.
Về lý luận, Nghị quyết 79-NQ/TW đã thể hiện sự đột phá, cách mạng của Đảng ta trong nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: dẫn dắt, điều tiết và tạo lập nền tảng cho các thành phần kinh tế khác phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, Nghị quyết 79-NQ/TW đặt ra yêu cầu tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường, quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả; đánh dấu sự chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị hiện đại, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Về thực tiễn, Nghị quyết 79-NQ/TW khẳng định kinh tế nhà nước đóng vai trò là công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện chiến lược phát triển, bảo đảm an ninh kinh tế và công bằng xã hội. Kinh tế nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô, khắc phục khiềm khuyết của thị trường, tăng cường liên kết giữa các thành phần kinh tế, tập trung nguồn lực chiến lược quốc gia.
3. Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước
Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW tạo thành chỉnh thể thống nhất trong chiến lược phát triển kinh tế nhiều thành phần, thể hiện sự vận dụng sáng tạo quy luật phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời phát huy vai trò của kiến trúc thượng tầng chính trị trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một mặt, phát triển kinh tế tư nhân nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất; mặt khác, củng cố kinh tế nhà nước nhằm dẫn dắt và kiểm soát quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa đảm bảo ổn định hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội. Phát triển kinh tế tư nhân phải gắn với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đồng thời, kinh tế nhà nước phải đổi mới để thích ứng với cơ chế thị trường, tránh bao cấp và độc quyền.
Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW đã tạo nên một sự kết hợp song trùng cộng hưởng, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa hai khu vực này. Khi kinh tế tư nhân được khơi thông đầy đủ tiềm năng và kinh tế nhà nước được củng cố về chất lượng và vai trò dẫn dắt, nền kinh tế Việt Nam sẽ có cơ sở vững chắc để hình thành một lực đẩy tổng hợp, đủ mạnh để bứt phá trong giai đoạn tới. Song trùng chiến lược này không chỉ nhằm đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong ngắn hạn mà còn hướng tới việc tạo dựng một mô hình phát triển cân bằng, bền vững và bao trùm hơn; hướng đến mục tiêu chung là đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Một quan điểm chính luận xuyên suốt trong hai Nghị quyết chính là việc thay đổi vai trò của Nhà nước từ quản lý sang kiến tạo phát triển. Nhà nước không còn can thiệp hành chính trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo kiểu “xin - cho", mà tập trung vào việc xây dựng khung pháp luật minh bạch, ổn định và thuận lợi, phục vụ, hỗ trợ cho doanh nghiệp. Việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản và không hình sự hóa các quan hệ kinh tế là những cam kết mạnh mẽ để doanh nhân yên tâm đầu tư, cống hiến; đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra cũng được yêu cầu chuyển mạnh từ “tiền kiểm" sang “hậu kiểm", ứng dụng công nghệ số để giảm thiểu phiền hà cho doanh nghiệp.
Để thực hiện thành công các mục tiêu đến năm 2030 và 2045, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là chìa khóa then chốt. Cả kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân đều được khuyến khích tiên phong trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và làm chủ các công nghệ lõi. Các cơ chế đặc thù như “sandbox" cho những mô hình kinh doanh mới sẽ là “mảnh đất màu mỡ" cho những ý tưởng táo bạo vươn tầm thế giới. Bên cạnh đó, việc xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh và tinh thần dân tộc và “một chính quyền phụng sự xã hội chủ nghĩa" cũng là một nhiệm vụ chiến lược để đảm bảo sự phát triển bền vững.
4. Giải pháp thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hệ giải pháp thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW phải được triển khai đồng bộ trên cả ba phương diện lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, bảo đảm sự phù hợp biện chứng giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và hệ thống chính trị - pháp lý, thể hiện qua các nhóm giải pháp sau đây:
- Nhóm giải pháp về hoàn thiện thể chế và pháp luật kinh tế:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu, đầu tư, kinh doanh, cạnh tranh, phá sản, thị trường vốn, đất đai và lao động theo chuẩn mực kinh tế thị trường hiện đại; Bảo đảm thực thi đầy đủ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 68; Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tăng cường trách nhiệm giải trình theo Nghị quyết 79.
Thứ hai, Đổi mới thể chế quản lý nhà nước đối với kinh tế: Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, minh bạch hóa hoạt động quản lý kinh tế; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính và hành động; tăng cường công tác tư tưởng, lý luận, bảo đảm thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy vai trò giám sát của Đảng đối với quản lý và sử dụng vốn nhà nước; tách bạch rõ ràng chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước và chức năng quản lý nhà nước.
- Nhóm giải pháp phát triển lực lượng sản xuất:
Thứ nhất, thúc đẩy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo: Tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước; Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ cao; đẩy mạnh chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Thứ hai, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Cải cách giáo dục – đào tạo theo hướng gắn với thị trường lao động và yêu cầu của công nghiệp 4.0; Phát triển đội ngũ doanh nhân, nhà quản trị doanh nghiệp và cán bộ quản lý kinh tế có trình độ, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp; Thu hút và trọng dụng nhân tài, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, tài chính, quản trị công.
- Nhóm giải pháp đổi mới quan hệ sản xuất:
Thứ nhất, Đổi mới sở hữu và cơ cấu kinh tế nhà nước: Tập trung kinh tế nhà nước vào các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, quốc phòng, an ninh và hạ tầng chiến lược; Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước ở những lĩnh vực mà tư nhân có thể đảm nhiệm tốt; phát triển các tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Thứ hai, Phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng: Hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và thị trường; Phát triển doanh nghiệp tư nhân lớn, có năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị quốc gia và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; Khuyến khích hình thành đội ngũ doanh nhân dân tộc gắn với trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh.
Thứ ba, Phát triển các hình thức liên kết và hợp tác: Mở rộng mô hình đối tác công – tư (PPP) trong hạ tầng, năng lượng, y tế, giáo dục và chuyển đổi số; Thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể trong cụm ngành, chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng; Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã như cầu nối giữa Nhà nước và thị trường.
- Nhóm giải pháp về kiến trúc thượng tầng và vai trò của Đảng, Nhà nước:
Thứ nhất, Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với phát triển kinh tế: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong hoạch định chiến lược và chính sách kinh tế; Tăng cường công tác tư tưởng, lý luận, bảo đảm thống nhất nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Phát huy vai trò giám sát của Đảng đối với quản lý và sử dụng vốn nhà nước
Thứ hai, Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế đồng bộ, minh bạch, ổn định và dự báo được; Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; cải cách thủ tục hành chính; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số; Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong khu vực nhà nước và tư nhân.
- Nhóm giải pháp về phân phối và bảo đảm công bằng xã hội:
Hoàn thiện chính sách phân phối gắn với năng suất, hiệu quả và đóng góp vốn, lao động; Tăng cường phân phối lại thông qua thuế, ngân sách và hệ thống an sinh xã hội; Thực hiện phát triển bao trùm, giảm bất bình đẳng vùng miền, nhóm xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Nhóm giải pháp về hội nhập quốc tế và phát triển bền vững:
Chủ động tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mớ; Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và doanh nghiệp; Kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện và giám sát:
Xây dựng chương trình hành động quốc gia triển khai hai nghị quyết với mục tiêu, lộ trình và chỉ tiêu cụ thể; Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ việc thực hiện nghị quyết; Phát huy vai trò của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân trong giám sát chính sách kinh tế.
KẾT LUẬN
Nghị quyết 68-NQ/TW và Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị là hai trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Hai nghị quyết phản ánh trình độ phát triển cao trong tư duy lý luận của Đảng, vừa tôn trọng quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa; khẳng định quan điểm của Đảng về việc phát triển kinh tế nhà nước cùng song hành với kinh tế tư nhân là một chiến lược toàn diện, dựa trên thực tiễn và có tầm nhìn xa. Việc triển khai hiệu quả hai nghị quyết có ý nghĩa quyết định đối với phát triển nhanh và bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Với sự lãnh đạo sát sao của Đảng và sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, mô hình kinh tế này chắc chắn sẽ là bệ phóng vững chắc để dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình và phát triển của dân tộc Việt Nam, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đã đề ra.
--------------------------------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025): Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.